Chi tiết tin - UBND xã Hiếu Giang
Những điểm mới nổi bật của Luật số 136/2025/QH15 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo
Ngày đăng: 06-10-2026
Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV thông qua Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Luật gồm 04 điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp công dân; Điều 2 sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại; Điều 3 sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành. Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và hiện đang được áp dụng.
Việc sửa đổi, bổ sung tập trung vào việc hoàn thiện pháp luật phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tăng cường trách nhiệm trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
1. Những điểm mới nổi bật của Luật Tiếp công dân
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất là lần đầu tiên luật ghi nhận hình thức tiếp công dân trực tuyến (Bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3):
“Điều 3a. Hình thức tiếp công dân
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp công dân theo các hình thức sau đây:
a) Tiếp công dân trực tiếp;
b) Tiếp công dân trực tuyến.”
Quy định này mở ra khả năng người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh mà không nhất thiết phải đến trực tiếp cơ quan nhà nước, đặc biệt đối với những trường hợp ở xa hoặc gặp khó khăn trong đi lại.
Một điểm mới khác là tăng cường vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo quy định mới được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 15, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
“a) Ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân;
b) Bố trí địa điểm thuận lợi và các điều kiện cần thiết khác cho việc tiếp công dân ở cấp xã;
c) Trực tiếp tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất;
d) Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân;
đ) Báo cáo công tác tiếp công dân định kỳ và đột xuất với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.”
Việc tăng cường trách nhiệm của cấp xã phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời góp phần giải quyết khiếu kiện ngay từ cơ sở.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ hơn về thông tin định danh của người đến khiếu nại, tố cáo tại điểm a khoản 2 Điều 7. Khi đến nơi tiếp công dân, người dân phải cung cấp họ tên, địa chỉ, số căn cước hoặc số định danh cá nhân; trường hợp được ủy quyền phải xuất trình giấy ủy quyền hợp pháp. Quy định này góp phần hạn chế tình trạng mạo danh, khiếu kiện không đúng chủ thể hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo.
Một nội dung có ý nghĩa lâu dài là việc bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 33 về xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo nền tảng cho việc quản lý dữ liệu thống nhất trên phạm vi cả nước.
2. Những điểm mới nổi bật của Luật Khiếu nại
So với Luật Tiếp công dân, những sửa đổi của Luật Khiếu nại bổ sung nhiều quy định xử lý tình huống phát sinh trong thực tiễn và đi sâu hơn vào quy trình giải quyết vụ việc.
Điểm thay đổi đầu tiên là mở rộng chủ thể thực hiện quyền khiếu nại. Nếu trước đây Luật quy định chủ thể là "công dân" thì nay sửa thành "cá nhân" theo khoản 1, khoản 2 Điều 2, đồng thời sửa đổi người có quyền, lợi ích hợp pháp do hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại từ “công dân” thành “cá nhân” tại khoản 2 Điều 24, điều này phù hợp với quy định mới của Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi bỏ sung năm 2025 và bảo đảm quyền con người theo hướng tiếp cận hiện đại.
Luật bổ sung Điều 11a vào sau Điều 11 quy định các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật, gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên liên quan; thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại, cụ thể:
“Điều 11a. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:
a) Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại;
b) Cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:
a) Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại;
b) Cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế; cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động mà quyền, nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được kế thừa;
c) Vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết;
d) Vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án.”
Để thống nhất với việc bổ sung thẩm quyền tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tại Điều 11a, Luật bổ sung quyền của người khiếu nại được nhận quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (điểm h khoản 1 Điều 12) để đảm bảo chặt chẽ và bảo vệ quyền của người khiếu nại. Thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn giải quyết. Đây là điểm mới giúp khắc phục khoảng trống pháp lý tồn tại nhiều năm.
Luật cũng mở rộng quyền rút khiếu nại tại khoản 1, 2, 3 Điều 10, cụ thể: Người khiếu nại có thể rút toàn bộ; rút một phần nội dung; rút bằng đơn hoặc bằng biên bản làm việc. Phần nội dung còn lại vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định. Tuy nhiên, nếu việc rút đơn do bị ép buộc hoặc đe dọa thì vẫn được xem xét lại nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.
Một sửa đổi thực tiễn khác là quy định về đối thoại tại khoản 6 Điều 30, theo đó, nếu người khiếu nại đã được mời hợp lệ nhưng cố tình không tham gia mà không có lý do chính đáng thì cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc, tránh tình trạng kéo dài hoặc lợi dụng thủ tục đối thoại để trì hoãn giải quyết.
3. Những điểm mới nổi bật của Luật Tố cáo
Đối với Luật Tố cáo, nội dung sửa đổi tập trung vào hoàn thiện thẩm quyền và nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc. Luật đã bổ sung nguyên tắc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong những trường hợp trước đây chưa quy định rõ, theo đó “Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của mình mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 12” (khoản 7 Điều 12)
Song song với đó là việc điều chỉnh thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và người đứng đầu các cơ quan chuyên môn nhằm phù hợp với mô hình tổ chức mới của chính quyền địa phương theo điểm a khoản 4 Điều 13.
Một điểm rất mới là cơ chế ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ “Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo sau khi kiểm tra thấy đủ điều kiện thụ lý tố cáo; kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết luận nội dung tố cáo sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả xác minh nội dung tố cáo.” (điểm c khoản 8 Điều 13). Đối với từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng có thể ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý, xác minh và báo cáo kết quả trước khi Thủ tướng xem xét, kết luận. Quy định này giúp tăng tính linh hoạt trong xử lý những vụ việc phức tạp nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm của người đứng đầu Chính phủ.
Ngoài ra, Luật Tố cáo cũng hoàn thiện quy định về rút tố cáo bằng đơn hoặc biên bản làm việc, đồng thời bổ sung trường hợp chấm dứt việc bảo vệ người tố cáo nếu người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật theo khoản 1 Điều 33.
Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo được ban hành đã tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo; đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay. Những điểm mới của Luật không chỉ góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền mà còn bảo đảm tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường công khai, minh bạch và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước./.
- MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ NGƯỜI DÂN CẦN BIẾT (20/08/2026)
- Điểm mới của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ. (27/07/2026)
- TUYÊN TRUYỀN SỬ DỤNG THIẾT BỊ ĐẦU CUỐI INTERNET VỆ TINH TẦM THẤP ĐÚNG QUY ĐỊNH (13/07/2026)
- XÃ HIẾU GIANG TỔ CHỨC LỄ CHÀO CỜ ĐẦU NĂM 2026 (05/01/2026)
- UBND XÃ HIẾU GIANG TỔ CHỨC KIỂM TRA CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NĂM 2025 (11/12/2025)
- XÃ HIẾU GIANG TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC BẦU CỬ TRƯỞNG THÔN (27/11/2025)
- ĐẢNG ỦY XÃ HIẾU GIANG ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC CHUYỂN ĐỔI SỐ THEO NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ (13/11/2025)
- XÃ HIẾU GIANG TỔ CHỨC THĂM, TRAO THIỆP CHÚC THỌ VÀ TẶNG QUÀ CHO NGƯỜI CAO TUỔI (11/11/2025)
- XÃ HIẾU GIANG CHUẨN BỊ THÀNH LẬP TRẠM Y TẾ (24/10/2025)
- XÃ HIẾU GIANG TỔ CHỨC HỘI NGHỊ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM CÁN BỘ (20/10/2025)


